Thứ Năm, ngày 02 tháng 7 năm 2015

Cách chữa đau lưng hông từ thói quen sinh hoạt thường ngày


Một trong những nguyên nhân gây ra đau lưng, trong đó có cả chứng đau lưng hông do công việc sinh hoạt thường ngày không phù hợp, cho nên việc hình thành các thói quen sinh hoạt thường ngày thành lịch chuẩn hợp lý để chữa đau lưng là một trong các cách hiệu quả và an toàn.

Bệnh đau lưng ở hông còn được gọi là đau thắt lưng hông, là một trong số các bệnh đau lưng hay bắt gặp gặp ở người người lớn tuổi, phụ nữ có thai, hoặc những người thường xuyên mang vác nặng...

Cách chữa đau lưng hông



Bệnh đau lưng hông có thể do nhiều lý do và triệu chứng không giống. Chính vì thế, cách trị bệnh đau lưng hông cũng rất nhiều, có thể uống thuốc hay không dùng thuốc, hay có thể chữa tại gia hoặc đến phòng khám điều trị… Tiếp sau đây là một số phương pháp chữa trị đau lưng hông được tạo ra từ các thói quen hàng ngày, đảm bảo đơn giản nhưng tác dụng cao.

>> Tiết lộ bài thuốc nam gia truyền chữa dứt điểm bệnh đau lưng chỉ sau 1 lộ trình điều trị <<

Cách chữa đau lưng hông từ những thói quen thường ngày


Thứ nhất

Thực hiện thói quen tập thể thao hàng ngày hay tập một môn thể thao nhẹ nhàng như bơi, đi bộ… sẽ giúp khởi động cơ thể, các cơ xương được làm nóng, dẻo dai và linh hoạt hơn, tránh những tổn hại của cột sống đặc biệt là khu vực dưới thắt lưng hông.

Thứ hai

Thực hiện các động tác hoạt động giống như khi ngồi làm việc, ăn ngủ: Các tư thế làm việc luôn thẳng không vẹo sang một bên, giữ hai vai bằng nhau, khi ngủ nằm đúng tư thế trên giường, đệm không quá dày và không đàn hồi cao sẽ giúp bảo vệ cột sống giảm dau lung hông hiệu quả.

Vấn đề 3

Không nên mang vác các đồ nặng hay tư thế cúi người đột ngột để năng vật nặng sẽ hạn chế lực tác động lên phần thắt lưng, giúp hạn chế những tổn thương và giảm đau lưng hông.

Thứ tư

Thường xuyên áp dụng những động tác mát xa nhẹ nhàng quanh cột sống: Hàng ngày nên áp dụng những động tác xoa bóp nhẹ nhàng vùng lưng, cả vùng thắt lưng, vùng gần hông sẽ giúp lưu thông khí huyết, bảo vệ xương sống, làm nóng các cơ xương, tạo cho sự vận động linh hoạt và dẻo dai hơn.

Thứ năm

Hình thành các chế độ dinh dưỡng cân bằng và hợp lý: Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần giảm đau lưng hông hiệu quả, việc có một chế độ ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, thêm nhiều canci và chất xơ sẽ làm xương chắc khỏe, phòng chống loãng xương với các bệnh liên quan.

Vấn đề 6

Loại bỏ những tác phong hàng ngày thiếu lành mạnh và là yếu tố gây ra bệnh đau lưng hông như: uống rượu bia, hút thuốc lá, ngồi vắt chân, đi giày cao gót,…


Xây dựng cho chính bạn các thói quen thường ngày để chữa đau lưng hông là cách hiệu quả, lại giúp giảm đau lưng lại vừa tạo thành những thói quen lành mạnh trong cuộc sống ngày nay.


Bài viết tham khảo:

=> Chia sẻ cách chữa đau lưng hiệu quả từ gừng tươi
=> Hiện tượng đau lưng dưới và các giải pháp

Thứ Năm, ngày 04 tháng 6 năm 2015

Quá trình điều trị bệnh thoái hóa đốt sống cổ diễn ra như thế nào

Thoái hoá đốt sống cổ là hiện tượng lắng tụ canxi và viêm dày lên dây chằng dọc cổ, gây hẹp các lỗ ra của các rễ thần kinh gây mỏi, tê, đau. Việc chèn ép rễ thần kinh và tuỷ sống còn có thể đưa đến thoát vị đĩa đệm vùng cổ và chèn vào tuỷ sống.

Quá trình điều trị bệnh thoái hóa đốt sống cổ

Các triệu chứng chính của thoái hóa đốt sống cổ

Các triệu chứng và mức độ nặng nhẹ ở mỗi người rất khác nhau, nhưng thường thì có dấu hiệu chung sau đây:

Giai đoạn 1 bênh nhân có các triệu chứng:

- Bệnh nhân lúc đầu cảm thấy cổ cứng, khó xoay chuyển, có dấu hiệu hơi đau khi cúi xuống.
- Từ từ không cúi , nhưng cổ thấy đau hơi nhức , rồi đau lan xuống vai.
- Đau khớp cổ và vai , khi nằm trăn trở , lúc nầy vai đau nhiều .

Giai đoạn 2 bênh nhân bắt đầu:

- Đau đầu không rõ nguyên nhân
- Các động tác cổ bị vướng và đau , có thể thỉnh thoảng bị vẹo cổ.
- Có những lúc cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai, đau lan ra đầu.

Giai đoạn 3 bệnh phát triển mạnh lên:

- Nhức đầu ở vùng chẩm , vùng trán , đau từ gáy lan xuống bả vai
- đau một bên cánh tay hay cả hai bênh cánh tay .
- mất cảm giác khéo léo của bàn tay, bị tê
- hai cánh tay từ từ nặng và tê , nếu không chữa thì có thể dễ dàng bị liệt .
- Thỉnh thoảng bệnh nhân còn có triệu chứng nấc cục, ngáp chảy nước mắt, nằm xuống , ngồi dậy chóng mặt.

Phương pháp điều trị thoái hóa đốt sống cổ:

Phương pháp 1: Uống thuốc điều trị thoái hóa đốt sống cổ, có 2 dạng thuốc đông y và tây y, chia thành 4 loại: Thuốc viên, thuốc sắc, thuốc ngâm rượu, thuốc xoa bóp
Phương pháp 2: Uống thuốc chỉ giảm đau , hết thuốc thì đâu vào đấy. Loại bệnh nầy can thiệp bằng thuốc thì không đạt hiệu quả như mong muốn.
Phương pháp 3: Vật lý trị liệu, dùng thiết bị treo cột sống cổ , có phần giảm đau tích cực lúc đầu, nhưng về lâu về dài thì cũng không hết được . Bệnh tái đi , tái lại.
Phương pháp 4: Châm cứu, cũng giống như vật lý trị liệu , khai thông các huyệt đạo làm cho bệnh nhân cảm thấy thật đễ chịu .Nhưng phần gân cơ co cọm không giải quyết được , vì vậy mà ở giai đoạn 3, hoàn toàn châm cứu không can thiệp được.
Phương pháp 5: Kết hợp nhiều phương pháp. Để chữa khỏi dứt điểm thoái hóa đốt sống cổ, chúng ta cần kết hợp nhiều phương pháp, chẳng hạn như kết hợp dùng thuốc và bài tập vật lý trị liệu, kết hợp châm cứu và dùng thuốc, kết hợp phẫu thuật và chế độ dinh dưỡng cho người bị nặng, kết hợp dùng thuốc với chế độ dinh dưỡng,... Việc kết hợp như vậy vừa giúp chữa trị, và phục hồi tổn thương cho bệnh nhân, giúp đẩy ngắn thời gian chữa thoái hóa đốt sống cổ.

Thực phẩm cho người bị thoái hóa đốt sống cổ

Chữa bệnh thoái hóa đốt sống cổ ngoài dùng thuốc cộng với việc tập thể dục đều đặn, còn yếu tốt dinh dưỡng rất quan trong góp phần vào quá trình điều trị. Thực phẩm cho người bị thoái hóa đốt sống cổ gồm những gì ?

Thoái hóa đốt sống cổ nên ăn gì

Dưới đây là 5 lại thực phẩm cần thiết cho người bị thoái hóa đốt sống cổ:

1. Con hàu (hay là hào hoặc hầu) chữa thoái hóa đốt sống cổ

Con hàu giúp chữa thoái hóa đốt sống cổ

Hàu là một loại hải sản sống dưới nước. Thịt hàu ngon và ngọt, rất giàu chất dinh dưỡng, có chứa protein, glucid, chất béo, kẽm, magiê, canxi,… trong con hàu rất giàu chất tăng cường canxi giúp cho xương chắc khỏe giảm các bệnh do thoái hóa xương gây ra. Ăn hàu còn giúp tác dụng tráng dương, bổ tinh, tư âm dưỡng huyết, ăn vào trị được chứng mất ngủ do nhiệt, và chống ung thư tiền liệt tuyến. Hàu không phải món bạn có thể ăn đều đặn, nhưng hai lần một tuần nếu có thể, hãy thêm vào khẩu phần ăn của mình năm con khi dùng bữa.

2. Quả chuối tiêu chữa thoái hóa đốt sống cổ

Chuối tiêu giúp chữa thoái hóa đốt sống cổ

Nhiều người không biết đến công dụng tuyệt vời của chuối tiêu. Đây là loại trái cây không những giúp tăng cường sự tập trung và độ nhạy bén của đầu óc, mà lợi ích thực sự của nó còn hơn thế: Cung cấp kali và chất điện phân giúp ngăn ngừa sự thoái hóa của xương và tăng lượng canxi của cơ thể lên mức hợp lý. Chuối cũng giúp tăng cường độ nhạy bén của hệ thần kinh, tăng khả năng miễn dịch và trao đổi chất của cơ thể.

3. Rau súp lơ xanh chữa thoái hóa đốt sống cổ

Thực phẩm cho người bị thoái hóa đốt sống cổ


Súp lơ xanh giúp chữa thoái hóa đốt sống cổ

Bông cải xanh rất giàu canxi, magiê, kẽm và phốt pho. Vì vậy mà chúng giúp xương chắc khỏe. Thường xuyên ăn bông cải xanh rất có lợi cho phụ nữ cao tuổi và phụ nữ mang thai, vì những người này có nhiều nguy cơ bị loãng xương. Một cốc súp lơ xanh ép nước chứa một lượng khá lớn canxi cũng như mangan, kali, photpho, magie và chất sắt. Thêm vào đó, nó còn chứa nhiều vitamin A,C và K, một trong các thành phần chống ung thư hữu hiệu.

4. Cây Atiso chữa thoái hóa đốt sống cổ

Cây atiso giúp chữa thoái hóa đốt sống cổ

Trong đông y, hoa atisô dùng trong các trường hợp đau gan, đau dạ dày, ăn uống không tiêu, sản phụ ít sữa, tiểu đường thống phong, thấp khớp, suy nhược cơ thể. Loại cây giàu chất xơ này chứa nhiều mangan, kali hơn bất kỳ loại rau nào khác. Lá của nó cũng chứa nhiều thành phần giúp giảm nguy cơ đột quỵ và vitamin C giúp duy trì hệ miễn dịch. Ăn càng thường xuyên càng tốt, bạn có thể nấu hoặc dùng như trà trà, ép sinh tố.

5. Rau cải chíp chữa thoái hóa đốt sống cổ

Rau cải chíp giúp chữa thoái hóa đốt sống cổ

Thực phẩm cho người bị thoái hóa đốt sống cổ

Cải chíp là một loại rau rất giàu các thành phần giúp bổ sung canxi, bên cạnh đó còn cung cấp thêm vitamin A, C, folic axit, chất sắt, beta carotin, và kali cho cơ thể. Chất kali giúp cho cơ bắp và các dây thần kinh luôn khỏe mạnh, beta carotin giảm nguy cơ ung thu phổi và ruột. Thêm vào khẩu phần ăn của bạn mỗi ngày một cốc nước ép cải chíp hoặc cải chíp trộn salad nhé.

Bên cạnh đó, để giảm nhẹ các bệnh về thoái hóa đốt sống cổ, không nên ngồi một tư thế trong thời gian quá lâu, đồng thời mỗi lúc đau đốt sống cổ thì nên nghỉ ngơi, thư giãn hoặc chườm nóng và xoa bóp tại chỗ để xoa dịu cảm giác đau. Nên kết hợp giữa ăn uống và điều trị hợp lý để mang lại kết quả tốt nhất.

Thứ Sáu, ngày 22 tháng 5 năm 2015

Dân văn phòng cảnh giác vì bệnh cơ xương khớp

Dân văn phòng ngồi nhiều, ít vận động chính là nguyên nhân gây nên khá nhiều bệnh xương khớp như thoái hóa cột sống cổ, cột sống thắt lưng..ngoài ra còn một số bệnh khác rất ảnh hưởng đến cuộc sống



Tìm hiểu thêm về thoái hóa cột sống

Triệu chứng báo hiệu

Đầu tiên là cảm giác đau khi ấn vào khớp. Không thể gập hay duỗi khớp một cách bình thường. Đau khớp tự phát: hoặc đau các khớp lớn như khớp gối, khớp vai, khớp cổ chân… hoặc đau những khớp nhỏ như khớp bàn tay – ngón tay, khớp liên đốt ngón tay… Cơn đau gia tăng khi khớp chịu lực hay gập duỗi. Tiếng lạo xạo, cót két phát ra khi cử động khớp. Yếu cơ quanh ổ khớp.

Để chẩn đoán viêm khớp, phải dựa trên sự thăm khám kỹ lưỡng và đánh giá lâm sàng tỉ mỉ qua tổng hợp các triệu chứng. Các xét nghiệm chuyên biệt giúp sự chẩn đoán chính xác hơn. Hình ảnh X-quang chỉ thấy rõ khi tổn thương quá nặng. Vì thế, chẩn đoán sớm các bệnh lý viêm khớp rất quan trọng. Bệnh nhân cần cung cấp đầy đủ thông tin về triệu chứng, bệnh sử, tiền căn gia đình, danh sách thuốc đã sử dụng… Người thân đi theo cũng cần cung cấp thêm thông tin bệnh tật và chia sẻ với bệnh nhân những khó khăn về cả tâm lý lẫn thể chất, ghi nhớ lời dặn dò của bác sĩ. Bác sĩ điều trị dựa vào sự khảo sát lâm sàng tỉ mỉ, đánh giá tình trạng khớp, mức độ tổn thương khớp, chẩn đoán loại bệnh lý viêm khớp… từ đó sẽ quyết định thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng như X-quang, xét nghiệm chuyên biệt cho viêm khớp dạng thấp, viêm khớp do thống phong, viêm dính cột sống, nhiễm trùng… Cuối cùng, bác sĩ cùng bệnh nhân vạch ra kế hoạch điều trị. Khác với nước ngoài, bệnh nhân nước ta thường để các bác sĩ quyết định hoàn toàn.


Một số loại viêm khớp thường gặp

Có hàng trăm bệnh lý viêm khớp nhưng thường thấy là các loại sau: thoái hoá khớp, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp thiếu nhi, nhiễm trùng khớp do vi trùng sinh mủ, nhiễm trùng khớp do lao…

Thoái hoá khớp: hay viêm khớp thoái hoá có thể ảnh hưởng bất cứ khớp. Tuy nhiên thoái hoá khớp lớn thường gặp hơn, nhất là những khớp chịu lực nhiều như khớp gối, khớp háng và khớp cổ chân. Nguyên nhân: do lạm dụng sức chịu đựng khớp, do chấn thương, lão hoá, mập phì, tật bẩm sinh, bệnh thống phong, tiểu đường, các bệnh lý nội tiết… Đa số thoái hoá khớp không rõ nguyên nhân liên quan đến sự lão hoá. Thoái hoá khớp không ảnh hưởng một cách hệ thống đến cơ thể như các bệnh viêm khớp khác. Triệu chứng thay đổi tuỳ từng bệnh nhân, thường thấy nhất là đau một ổ khớp hay nhiều khớp khi hoạt động quá mức và bớt khi nghỉ ngơi hay tập nhẹ nhàng. Cứng khớp hay giới hạn cử động khớp thường xảy ra vào buổi sáng, bớt khi tập luyện cử động nhẹ nhàng vài lần trong ngày.

Viêm khớp ảnh hưởng đến vài trăm triệu người trên khắp thế giới. Hiểu rõ và sống chung với viêm khớp, nhất là các loại bệnh viêm khớp mạn tính là một thái độ tích cực góp phần gia tăng chất lượng cuộc sống của chính bệnh nhân.

Viêm khớp dạng thấp: là bệnh mạn tính thường thấy ở Việt Nam, số bệnh nhân nữ nhiều gấp hai, ba lần nam giới. Viêm khớp tiến triển chậm dần theo tuổi tác nhưng gây tỷ lệ tàn tật và tử vong cao. Đây là bệnh tự miễn, do cơ thể tiết ra các chất tấn công bao khớp, xâm nhập và phá huỷ ổ khớp. Nguyên nhân viêm khớp dạng thấp chưa rõ, nhưng yếu tố di truyền được xem có vai trò quan trọng. Tuổi mắc bệnh thường là trung niên nhưng vẫn có thể xảy ra ở tuổi 20 – 30. Nếu không điều trị, bệnh có thể ảnh hưởng các cơ quan khác một cách có hệ thống.

Triệu chứng thường là sưng đau, ấn đau, giới hạn cử động hay cứng khớp. Các khớp thường gặp là bàn – ngón tay, các lóng tay, cổ tay, cổ chân, bàn – ngón chân. Sáng ra bệnh nhân thường có cảm giác cứng, khó cử động bàn – ngón tay hay ngón chân trong nhiều giờ, càng vận động càng bớt cứng. Bệnh nhân cũng thấy tê các đầu ngón tay và ngón chân, nhất là về đêm hay vừa ngủ dậy. Triệu chứng viêm khớp thường có tính đối xứng. Bệnh nhân còn thấy chán ăn, mệt mỏi, sốt nhẹ… Diễn biến lâu năm, các biến dạng khớp tiến triển dần do tổn thương nặng xương – sụn; xương kêu lạo xạo khi cử động; xuất hiện các nốt thấp dưới da quanh các khớp chịu lực.

Viêm khớp thiếu nhi: phần lớn nguyên nhân không được biết rõ. Đây không phải là bệnh lây lan, cũng không phải do những yếu tố như thức ăn, chất độc, sinh tố, dị ứng… Cũng không chắc có yếu tố di truyền. Nhiều triệu chứng bệnh giống viêm khớp dạng thấp người lớn. Khi bệnh tiến triển lâu, xương sụn khớp bị tổn thương nặng có thể gây biến dạng khớp, khó cử động và ảnh hưởng lên sự tăng trưởng xương khớp. Một số cháu có triệu chứng một thời gian rồi khỏi hẳn, một số cháu sẽ không khỏi nếu không được chữa trị.




Tập thể dục để tránh bị viêm khớp

Phụ nữ ở độ tuổi 70 thường xuyên vận động thân thể có thể ngăn ngừa được nguy cơ mắc các triệu chứng viêm khớp.

Theo Hãng tin ANI, các nhà khoa học thuộc Đại học Queensland (Úc) đã rút ra kết luận này sau khi nghiên cứu dữ liệu của hai nhóm, nhóm 1: phụ nữ từ 48-55 tuổi và nhóm 2: phụ nữ từ 72-79 tuổi.

Sau 3 năm, các chuyên gia nhận thấy phụ nữ ở nhóm 2 nếu tập thể dục hơn 60 phút/tuần đã giảm được đáng kể nguy cơ bị viêm khớp trong 3 năm tiếp theo. Tăng số giờ tập thể dục lên 2,5 tiếng/tuần, số phụ nữ nhóm 2 đã ngừa được nguy cơ mắc các triệu chứng viêm khớp. Tuy nhiên, ở nhóm 1 lại không có được kết quả như trên.

Thứ Năm, ngày 21 tháng 5 năm 2015

Thoát vị đĩa đệm làm tăng áp lực lên sụn khớp

Thoát vị đĩa đệm khiến các đốt sống bị ảnh hưởng rất nhiều do vậy nó làm tăng áp lực lên các sụn ở đầu khớp dẫn tới lâu dài sẽ gây tổn thương lên sụn khớp.

Khi bị thoát vị đĩa đệm, người bệnh cảm thấy vô cùng đau nhức, thậm chí bị tê cứng, teo hay liệt cơ ở các vùng phân bố của rễ thần kinh.

Bệnh thường xuất hiện ở cột sống thắt lưng, bởi một trong những nguyên nhân chính là các khớp ở đây không có màng hoạt dịch và dịch khớp nên sụn khớp vừa không được nuôi dưỡng tốt vừa phải gánh chịu nhiều áp lực của cơ thể.



Thoái hóa sụn khớp - nguyên nhân ít ngờ đến

Đĩa đệm bao gồm vòng xơ xung quanh chứa thành phần sụn sợi. Vòng xơ bao quanh chất nhân nhầy nằm giữa thân của hai đốt sống. Bề mặt thân sống gọi là đĩa thân sống có lớp sụn chứa thành phần collagen týp 2. Chức năng đĩa đệm là làm cho cột sống đàn hồi tốt khi vận động. 

Khi tuổi càng lớn thì đĩa đệm dần dần thoái hóa và mất nước dễ gây tình trạng rách đĩa đệm. Khi đó nhân nhầy bên trong đĩa đệm thoát ra ngoài chèn ép vào dây thần kinh gây đau, yếu liệt tay chân. Nên gọi đó là bệnh lý đau thần kinh do thoát vị đĩa đệm.
Theo Viện Phẫu thuật chỉnh hình Mỹ, thoát vị đĩa đệm thường xảy ra ở cột sống thắt lưng (khoảng 5 đốt sống cuối). Bên cạnh nguyên nhân do các tổ chức như cơ, dây chằng, khớp... bị suy yếu, nguyên nhân chính gây thoát vị đĩa đệm là do lớp sụn bên trong các đĩa đệm ở khớp cột sống bị thoái hóa. Khi đó, lớp sụn mỏng đi nên dễ bị tụt ra khỏi vị trí của nó, chèn ép vào tủy sống. 

Đọc thêm về cách điều trị đau thần kinh tọa

Hậu quả nặng nề

Thông tin từ Tổ chức Dịch vụ chăm sóc y tế quốc gia Anh (NHS) cho thấy, thoát vị đĩa đệm thường xuất hiện ở những người từ 30 - 50 tuổi và nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2 lần nữ giới. Cứ 20 người có triệu chứng đau vùng lưng dưới thì có một người bị thoát vị đĩa đệm và cần được điều trị tích cực.

Tại VN, con số người từ 60 tuổi bị đau nhức lưng thường xuyên chiếm gần 20% và nhiều người trong số đó mắc chứng thoát vị đĩa đệm.

Hậu quả của bệnh được đánh giá là rất nghiêm trọng. Bệnh gây chèn ép tủy sống và các rễ thần kinh với các biểu hiện như đau, tê, teo hay liệt cơ ở các vùng phân bố của rễ thần kinh. Trong đó, đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất. Cơn đau thường tái phát nhiều lần, khi âm ỉ lúc dữ dội, nhưng thường tăng nặng khi ho, hắt hơi, cúi người. Nếu không được điều trị, cơn đau có thể kéo dài hằng tháng và khiến các khớp cột sống bị “mọc” gai.

Khi bị thoát vị đĩa đệm, đặc biệt nếu tổn thương thần kinh cánh tay, thần kinh tọa, khả năng vận động của người bệnh sẽ giảm sút rõ rệt, như: khó vận động các chi, không thể gấp, duỗi hay nhấc chân tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí xuất hiện tình trạng teo cơ chân, tay...

Thứ Ba, ngày 19 tháng 5 năm 2015

HIỆN TƯỢNG đau lưng PHÍA DƯỚI VÀ GIẢI PHÁP

Đau ê ẩm vùng lưng phía dưới là một dạng của bệnh đau lưng, chúng ta có thể bị bệnh này khi làm việc sai tư thế khi hoạt động hoặc đây cũng có thể là triệu chứng nhất quyết của một số bệnh lý.

 

Xem thêm:

>> Thoái hóa đốt sống cổ do căn nguyên nào

 

Bệnh đau lưng phía dưới:

Đau nhức ở lưng phía dưới là một biểu hiện thể hiện bằng hiện tượng đau ở vùng được hạn chế từ ngang đoạn cột sống lưng ở phía trên và ngang đĩa đệm đốt sống thắt lưng 5 và cùng 1 ở phía dưới; bao gồm đa, tổ chức dưới da, cơ, xương và các bộ phận ở sâu.

Đau lưng phía dưới

Nguyên do gây đau lưng phía dưới:

- Nguyên cớ do tuổi tác: bệnh hay gặp ở người già trên 60 tuổi

- Nguyên nhân do thương tổn như: chấn thương gây rạn nứt, vỡ, di lệch đốt sống, viêm cột sống dính khớp, viêm cột sống do lao, ung thư, bệnh Paget, loãng xương…

- Nguyên cớ do bệnh ở nội tạng:

+ Loét hành tá tràng, ung thư dạ dày, bệnh sỏi  tuỵ, viêm tuỵ mạn và cấp, viêm gan mạn, sỏi đường mật, dỏi trong gan, bệnh túi mật…

+ Bệnh viêm đường tiểu, sỏi thận, tiết niệu, lao thận, u thận, thận đa nang, viêm thận bể thận.

+ Ở phụ nữ có thể gặp u nang buồng trứng, u xơ tử cung, đau bụng kinh, đau sau đặt vòng, sau các thủ thuật mổ lấy thai, mổ cắt tử cung

+ Bệnh của tuyến tiền liệt ở nam giới…

 

triệu chứng đau nhức ở lưng phía dưới:

- Lưng đau cứng là nguyên nhân gây ra bệnh nhân kkhông thể cử động được, phải nằm, không dám cử động trong vòng 5 đến 7 ngày nhưng cũng thi thoảng nằm 10 – 15 ngày sau đó người bệnh mới đi lại được.

- Đau đột ngột sau các động tác mạnh, không phù hợp như mang vác, ngồi làm việc hoặc nằm không đúng tư thế...

- Đứng hay ngồi lâu sẽ thấy đau, sáng thức dậy khó đi lại....

Đau lưng phía dưới

Các chữa trị bệnh đau nhức ở lưng phía dưới:

Bệnh này tuy không phải bệnh nguy hại đến sự sống còn của con người, nhưng cảm giác bị đau âm ỉ, khó đi lại, thậm chí người bị nặng còn phải nằm bất động 1 chỗ lâu ngày lại ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống cũng như hoạt động bình thường của họ. Bệnh lại rất dễ tái phát và khó điều trị. Do đó xác định chính xác nguyên do gây bệnh là một thời cơ trong chữa trị lâu dài bệnh lý này. (Xem thêm điều trị đau cơ lưng tại đây)

 

một số cách phòng và điều trị chúng tôi xin được giới thiệu là:

- Dùng thuốc giảm đau trong các trường hợp đau nhiều: thuốc Aspirin, Indomethacin, Profenid, Brufen... Có thể sử dụng cao dán, thuốc mỡ có Salicylat. Không nên dùng các thuốc có Steroid.

- Chườm nóng, mát xa.

- Dùng điện: hồng ngoại, sóng ngắn, điện dẫn thuốc...

- Thao tác cột sống (không làm khi nghi có viêm, ung thư, loãng xương nặng).

- Sử dụng phương pháp châm cứu bấm huyệt.

- Dùng thuốc giãn cơ khi có co cơ.

- Có chế độ tập luyện, ăn uống và nghỉ ngơi hợp lý.

- Không làm việc quá sức

- Tăng cường canxi và chất xơ trong khẩu phần ăn.

- Thực hiện phẫu thuật trong một số trường hợp sau:

+ Phẫu thuật làm cứng, cố định khi có nguy cơ lún đốt sống, gù vẹo nhiều...

+ Phẫu thuật điều trị thoát vị đĩa đốt sống: mổ lấy nhân thoát vị, mổ cắt cung sau.

+ Các bệnh di lệch áp chế vào tuỷ, đuôi ngựa (lao, chấn thương, u…).

 

Bệnh đau ê ẩm vùng lưng phía dưới có rất nhiều căn do khác nhau, do đó người bệnh cần phải được thăm khám một cách tỉ mỉ và chính xác mới đem đến một kết luận chuẩn xác và điều trị kịp thời.

Bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ và cách chữa bệnh


Trong đời sống hiện đại việc chữa bệnh đang rất được quan tâm, chăm sóc và các chuyên gia luôn tìm hiểu để có được cách chữa bệnh hiệu quả nhất. Tìm hiểu về bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ sẽ giúp quá trình chữa bệnh được tốt hơn.



Bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ và cách chữa bệnh

Thoát vị đĩa đệm ở cột sống cổ tỏ ra nguy hiểm hơn nhiều so với ở thắt lưng vì ở vùng này tủy sống có nhiều trung tâm quan trọng. Giống như ở thắt lưng, không phải thoát vị đĩa đệm cột sống cổ nào cũng gây ra bệnh. Điều kiện đầu tiên để khối thoát vị của đĩa đệm cột sống cổ có thể gây ra bệnh là phải có hẹp ống sống cổ. Ống sống cổ chỉ cần hẹp tương đối, nếu không có khối thoát vị thì vẫn còn đủ chỗ cho tủy sống và các rễ thần kinh nên không có triệu chứng gì cả, khi có khối thoát vị, tủy sống hoặc rễ thần kinh bị chèn ép gây ra bệnh. Còn khi ống sống rộng đủ chỗ cho cả tủy sống, các rễ thần kinh cùng với khối thoát vị chung sống hòa hoãn với nhau thì ta được “yên thân”.


Biểu hiện của thoát vị đĩa đệm cột sống cổ thường được chia thành ba nhóm: nhóm bệnh lí rễ và nhóm bệnh lí tủy và nhóm vừa có biểu hiện của bệnh lí rễ vừa có biểu hiện của bệnh lý tủy.

Ở nhóm bệnh lí rễ, biểu hiện nổi bật thường là đau và tê. Đau cổ gáy, thường lan ra vai và xuống tay, làm hạn chế vận động của tay khi đưa ra sau (gãi sau lưng) hoặc lên cao (chải đầu). Đôi khi đau lan ra cả một vùng da đầu. Thông thường đau nhức nhối, khó chịu nhưng đôi khi đau biểu hiện giống như mỏi, mơ hồ và không rõ ràng. Ở nước ta, rất nhiều người bệnh có biểu hiện đau ở một bên thành ngực hoặc ở vùng cột sống giữa hai bả vai, dấu hiệu này ít có ở Âu Mỹ. Tê thường hay thấy ở vùng cẳng tay, bàn tay và các ngón tay, tăng lên sau khi làm việc nhiều hoặc lái xe gắn máy. Nếu các ngón tay bị tê, người bệnh sẽ có cảm giác khác lạ khi cầm nắm các đồ vật thường dùng. Hầu hết đều có yếu cơ nhưng ít khi người bệnh nhận biết được, chỉ đến khi yếu nhiều, không còn cầm nắm chắc, viết, cầm đũa hoặc gài nút áo khó khăn thì mới nhận ra. Khi bệnh nặng có thể có teo một số cơ ở tay.

Ở nhóm bệnh lí tủy, biểu hiện nổi bật thường là tê và yếu liệt. Tê thường bắt đầu ở vùng thân mình, đặc biệt ở vùng bụng trước, sau đó là hai chân và hai tay. Chân thường yếu trước hai tay làm cho người bệnh hay bị rớt dép hoặc dễ vấp ngã. Khi yếu nhiều, có thể thấy các thớ cơ rung lên mỗi khi đụng vào hoặc gắng sức. Khi bệnh nặng, người bệnh đi lại khó khăn, hai tay cũng không còn làm việc bình thường được nữa, tiểu khó và thường bị táo bón, hay cảm thấy thiếu hơi hoặc khó thở.

Những người thuộc nhóm "rễ - tuyt" vừa có biểu hiện của bệnh lý rễ, đồng thời vẫn có biểu hiện của bệnh lí tủy.

Các phương pháp chữa bệnh được chia thành hai nhóm: bảo tồn (điều trị nội khoa) và can thiệp ngoại khoa.

Điều trị bảo tồn gồm việc dùng thuốc và vật lí trị liệu thường có hiệu quả khi người bệnh chỉ có đau hoặc tê trong bệnh lí rễ và hầu như không có hiệu quả đối với những người bệnh có biểu hiện của bệnh lí tủy. Kéo cột sống cổ là một phương pháp khá hiệu quả nhưng đòi hỏi người bệnh phải kiên trì. Xoa nắn (chiropatic) bởi các chuyên gia thực thụ (chứ không phải trong các tiệm massage) và các bài tập cũng mang lại hiệu quả khá khả quan.

Các phương pháp khác như từ trường, ion, chiếu tia hồng ngoại, điện phân… cũng có những kết quả nhất định.


Khi người bệnh đã có teo cơ hoặc có biểu hiện của bệnh lí tủy, điều trị ngoại khoa cần được xét đến.
Giảm áp đĩa đệm bằng laser qua da (PLDD) có những hiệu quả nhất định nhưng thường được chỉ định cho các trường hợp vẫn còn có thể bảo tồn. Lấy đĩa đệm thông qua một cây kim xuyên qua da được kiểm soát dưới Xquang cũng được một số bác sĩ ưa chuộng.

Các phương pháp phẫu thuật nội soi dành cho thoát vị đĩa đệm cột sống cổ hiện nay vẫn chưa đạt được sự hoàn hảo cần thiết tuy kết quả có khá hơn những phương pháp nêu trên. Mổ hở là biện pháp triệt để và hiệu quả nhất mặc dù vẫn còn một số khó khăn nhất định. Xét về một mặt nào đó, mổ là một cuộc đánh đổi giữa việc hết bệnh và việc nhận lấy một nguy cơ có thể xảy ra các biến chứng cũng như các ảnh hưởng về sau của cuộc mổ.

Trong trường hợp của thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, vì tính chất nguy hiểm của nó, thường thì người bệnh sẽ lời trong cuộc đánh đổi này, xấu lắm thì cũng huề, chỉ một số rất ít trường hợp là bị lỗ. Giống như ở cột sống thắt lưng, tập luyện thể thao, sống trong một môi trường trong sạch, thường xuyên vận động, tránh ngồi lì một chỗ và đừng để cho mình trở thành béo phì sẽ giúp cho Quí vị tránh được căn bệnh này.